0338922229

contact@Vietstats.vn

Đăng ký/ Đăng nhập
Logo công ty
Let Data Lead The Policy
Về chúng tôiDữ liệu kinh tếKinh tế ngànhKinh tế địa phươngCon số biết nóiGóc nhìn chuyên giaTài nguyên

Gói dữ liệu

Đầu tư tư nhân tăng, nhưng sao sức bật doanh nghiệp chưa tương xứng?

R&A

03-10-2026

Ý kiến (0)

Mới nhất
bai-viet-lien-quan
05-10-2026
Áp lực giá cả 9 tháng 2026 đang dồn vào những khoản chi khó cắt giảm
bai-viet-lien-quan
05-10-2026
Đằng sau 684 nghìn việc làm tăng thêm trong 9 tháng đầu năm 2026
bai-viet-lien-quan
03-10-2026
Tăng trưởng địa phương 9 tháng 2026: Công nghiệp bứt tốc nhưng còn nhiều sức ép cuối năm
bai-viet-lien-quan
03-10-2026
Kinh tế tăng tốc 9 tháng 2026, vì sao thanh niên thành thị khó tìm việc hơn?
bai-viet-lien-quan
03-10-2026
Công nghiệp 9 tháng 2026 tăng tốc, sức ép tồn kho xuất hiện ở đâu?
bai-viet-lien-quan
03-10-2026
Nông, lâm, thủy sản 9 tháng 2026: xuất khẩu phân hóa, nhập khẩu nguyên liệu tăng mạnh
Logo công ty
Vietstats - Nền tảng tổng hợp dữ liệu kinh tế đáng tin cậy, hỗ trợ hoạch định chiến lược chính sách và ra quyết định thông minh cho nhà đầu tư và doanh nghiệp.
CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP
Nhà phát triển webChuyên Viên Phân Tích Dữ Liệu (Data Analyst)Nhà thiết kế webNhà phân tích dữ liệuNhà phát triển kinh doanh
CHÍNH SÁCH VÀ ĐIỀU KHOẢN
Chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhânĐiều khoản và điều kiện chungĐiều khoản mua gói dịch vụ dữ liệuCâu hỏi thường gặp (Q&A)
LIÊN HỆ
Tầng 3, Block B Tòa nhà Jamona Heights, 210 Bùi Văn Ba, phường Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh.
0338922229
contact@Vietstats.vn

Số GCNĐKDN: 0318370355 - Đăng ký thay đổi lần thứ 1, ngày 08 tháng 04 năm 2024.

Logo công ty
  • CÔNG TY VIETSTATS
  • Tầng 3, Block B Tòa nhà Jamona Heights, 210 Bùi Văn Ba, phường Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh.
© Vietstats Corp. All rights reserved.
Bài viết liên quan
bai-viet-lien-quan
Áp lực giá cả 9 tháng 2026 đang dồn vào những khoản chi khó cắt giảm
Giá xăng dầu khiến CPI tháng 9 tăng mạnh, nhưng xét chung 9 tháng, mặt hàng ăn uống và nhà ở mới là hai nhóm đóng góp lớn nhất vào lạm phát. Cơ cấu này cho thấy sức ép giá cả đang tập trung vào những nhu cầu thiết yếu, ở đó người dân có ít khả năng điều chỉnh chi tiêu. Trong tháng 9/2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,62% so với tháng trước. Nhóm giao thông đóng góp 0,4 điểm phần trăm, tương đương gần 65% mức tăng chung. Tuy nhiên, tính bình quân 9 tháng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống cùng nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng đóng góp tổng cộng 3,21 điểm phần trăm, chiếm khoảng 71% mức tăng CPI 4,52%. Hai kết quả này phản ánh những khía cạnh khác nhau của diễn biến giá cả thời gian qua. Xăng dầu tạo ra biến động lớn trong tháng, trong khi chi phí ăn uống và nhà ở gây sức ép kéo dài lên ngân sách gia đình. Vì vậy, ngay cả khi giá nhiên liệu hạ nhiệt, gánh nặng sinh hoạt chưa chắc đã giảm...
bai-viet-lien-quan
Đằng sau 684 nghìn việc làm tăng thêm trong 9 tháng đầu năm 2026
Đằng sau mức tăng gần 684 nghìn người có việc làm trong chín tháng năm 2026 là sự mở rộng đáng kể của việc làm chính thức. Diễn biến này gợi mở một cách đánh giá sâu hơn về thị trường lao động, đồng thời đặt ra câu hỏi về chất lượng và khả năng tiếp cận những cơ hội mới. Theo Cục Thống kê, số người có việc làm trong 9 tháng năm 2026 đạt 52,7 triệu, tăng 683,8 nghìn người, tương đương 1,3% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ việc làm phi chính thức giảm 2 điểm phần trăm, xuống còn 61,5%, với khoảng 32,4 triệu người. Từ những số liệu này, có thể ước tính quy mô việc làm chính thức đạt khoảng 20,3 triệu người, tăng khoảng 1,3 triệu so với cùng kỳ. Cùng thời gian đó, số người có việc làm phi chính thức giảm khoảng 630 nghìn. Như vậy, mức tăng của việc làm chính thức gần gấp đôi mức tăng ròng của tổng việc làm. Điều đáng chú ý chính là sự thay đổi về mặt cơ cấu. Nếu chỉ nhìn vào mức tăng 1,3% của số người có việc...
bai-viet-lien-quan
Tăng trưởng địa phương 9 tháng 2026: Công nghiệp bứt tốc nhưng còn nhiều sức ép cuối năm
Mười hai địa phương tăng trưởng hai chữ số trong chín tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, tốc độ tăng GRDP, khả năng thu hút vốn và tiến độ đầu tư đang phân hóa rõ rệt. Những địa phương mở rộng được sản xuất hiện hữu hoặc đưa công suất mới vào vận hành đạt kết quả nổi bật; các trung tâm kinh tế lớn vẫn chịu sức ép biến nguồn lực đầu tư thành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Quảng Ninh tăng trưởng 12,54%, Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08% và Bắc Ninh 11,81%, dẫn đầu các địa phương trong chín tháng năm 2026. Nhóm đạt tăng trưởng từ 10% trở lên gồm 12 địa phương, chiếm 35,6% tổng GRDP năm 2025. Trong khi đó, TP.HCM và Hà Nội cùng chiếm 35,7% tổng GRDP nhưng chỉ tăng lần lượt 9,06% và 8,85%. Sự tương đồng về quy mô giữa hai nhóm cho thấy tăng trưởng nhanh tại các trung tâm công nghiệp đang tạo lực đẩy đáng kể, còn khả năng tăng tốc của hai đầu tàu lớn vẫn có ý nghĩa quyết định đối với kết quả chung. Khoảng cách giữa địa phương tăng cao nhất và...
bai-viet-lien-quan
Kinh tế tăng tốc 9 tháng 2026, vì sao thanh niên thành thị khó tìm việc hơn?
Kinh tế tăng tốc 9 tháng 2026, vì sao thanh niên thành thị khó tìm việc hơn? Thất nghiệp thanh niên thành thị quý III/2026 đạt gần 12,5%, trong khi việc làm cả nước tăng và doanh nghiệp tiếp tục mở rộng tuyển dụng. Đối chiếu với cùng kỳ cho thấy đây là một điểm nghẽn kéo dài trong khả năng kết nối người trẻ với việc làm, hơn là sự suy yếu đột ngột của thị trường lao động. GDP quý III tăng 9,95% so với cùng kỳ. Số người có việc làm đạt gần 52,97 triệu, tăng khoảng 292.000 người so với quý trước. Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đóng góp hơn 91% phần tăng việc làm. Tỷ lệ thiếu việc làm giảm, tỷ trọng việc làm phi chính thức cũng thu hẹp. Nhưng tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thành thị tăng từ 9,75% trong quý II lên 12,49% trong quý III. Khoảng cách với thanh niên nông thôn nới rộng từ 1,67 lên 5,37 điểm phần trăm. Sự cải thiện của thị trường lao động chung đang đi cùng khó khăn lớn đối với một bộ phận người mới gia nhập. Thông cáo...
bai-viet-lien-quan
Công nghiệp 9 tháng 2026 tăng tốc, sức ép tồn kho xuất hiện ở đâu?
Sản xuất và tiêu thụ của ngành chế biến, chế tạo tăng gần tương đương trong 9 tháng đầu năm 2026. Nhưng phía sau sự cân bằng chung, một số ngành đang sản xuất nhanh hơn khả năng bán hàng, khiến vốn lưu động chịu sức ép ngay trong giai đoạn tăng trưởng cao. Trong 9 tháng, sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,93%, còn tiêu thụ tăng 12,8%. Chênh lệch chỉ 0,13 điểm phần trăm cho thấy đà mở rộng sản xuất toàn ngành có nền tảng đầu ra tương đối tốt. Tuy nhiên, tháng 9 xuất hiện diễn biến khác. Sản xuất tăng 4,29% so với tháng trước, tiêu thụ giảm 0,46%, còn tồn kho cuối tháng tăng 4,28%. Nhịp sản xuất tiếp tục đi lên trong khi giao hàng chậm lại, tạo thêm nhu cầu tài trợ cho hàng hóa chưa bán được. Sự lệch nhịp này chưa trải đều trong toàn ngành. Số liệu từng nhóm sản phẩm cho thấy sức ép tập trung ở một số lĩnh vực, trong khi những ngành khác đang tiêu thụ hàng và giải phóng tồn kho khá tốt. Chính sự phân hóa ấy quyết định mức...
bai-viet-lien-quan
Nông, lâm, thủy sản 9 tháng 2026: xuất khẩu phân hóa, nhập khẩu nguyên liệu tăng mạnh
Rau quả, thủy sản và gỗ đang giữ nhịp tăng trưởng xuất khẩu, trong khi cà phê, gạo và một số nông sản chịu sức ép về giá hoặc lượng tiêu thụ. Ở chiều nhập khẩu, nhu cầu nguyên liệu tăng nhanh đặt ra bài toán về phần giá trị mà doanh nghiệp và người sản xuất trong nước giữ lại. Trong 9 tháng đầu năm 2026, mười nhóm hàng chủ lực gồm thủy sản, rau quả, điều, cà phê, chè, tiêu, gạo, sắn, cao su và gỗ đạt tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 47,85 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Mức tăng này thấp hơn đáng kể tốc độ tăng 24,5% của xuất khẩu hàng hóa cả nước. Đằng sau kết quả chung là sự phân hóa mạnh. Rau quả tăng thêm khoảng 1,15 tỷ USD, thủy sản tăng 935 triệu USD và gỗ tăng 789 triệu USD. Tổng phần tăng của ba nhóm đạt 2,87 tỷ USD, trong khi cả mười nhóm chỉ tăng ròng 2,06 tỷ USD. Cà phê, gạo, cao su và sắn cùng giảm khoảng 1,03 tỷ USD, hấp thụ một phần đáng kể thành quả của các ngành đang mở rộng...
bai-viet-lien-quan
Cà phê xuất khẩu 9 tháng 2026 nhiều hơn nhưng thu về ít hơn
Lượng cà phê xuất khẩu tăng 16,2% trong 9 tháng đầu năm 2026, nhưng kim ngạch giảm 6,9%. Đằng sau hai con số trái chiều là mức giảm gần 20% của giá xuất khẩu bình quân, khiến phần doanh thu tăng thêm từ sản lượng không đủ bù sức ép về giá. Trong 9 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,45 triệu tấn cà phê, thu về 6,57 tỷ USD. So với cùng kỳ, lượng xuất khẩu tăng hơn 202.000 tấn, nhưng nguồn thu giảm gần 490 triệu USD. Bình quân mỗi tấn cà phê xuất khẩu mang về khoảng 4.525 USD, thấp hơn mức 5.651 USD của cùng kỳ năm trước. Điểm đáng chú ý nằm ở quy mô tác động của hai chiều biến động. Với mức giá bình quân cùng kỳ, lượng cà phê xuất khẩu tăng thêm có thể tạo ra khoảng 1,15 tỷ USD doanh thu. Tuy nhiên, mức giảm của đơn giá bình quân trên lượng hàng xuất khẩu năm nay làm nguồn thu thấp hơn khoảng 1,63 tỷ USD. Tác động giảm từ đơn giá lớn gấp 1,43 lần phần tăng từ sản lượng, kéo tổng kim ngạch đi xuống. Như vậy, năng...
bai-viet-lien-quan
Du lịch 9 tháng 2026: Khách Nga tạo gần một phần ba mức tăng du lịch quốc tế
Khách Nga tạo gần một phần ba mức tăng du lịch quốc tế Việt Nam đón 17,68 triệu lượt khách quốc tế trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 14,55% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng thay đổi rõ về địa lý. Châu Âu tạo ra gần 47% lượng khách tăng thêm, vượt đóng góp của toàn bộ châu Á. Riêng Nga đóng góp hơn 31%, trong khi tổng khách Trung Quốc và Hàn Quốc giảm. Sự thay đổi này khiến tăng trưởng toàn ngành đi cùng sự phân hóa giữa doanh nghiệp và điểm đến. Những cơ sở phụ thuộc vào các thị trường truyền thống có thể chịu sức ép công suất, còn những nơi tiếp cận được dòng khách mới có điều kiện mở rộng doanh thu. Châu Âu tăng vai trò, Nga quyết định phần lớn sức tăng Trong khoảng 2,25 triệu lượt khách quốc tế tăng thêm, châu Âu đóng góp 1,05 triệu lượt, tương đương 46,78%. Châu Á bổ sung khoảng 929 nghìn lượt, chiếm 41,39%, dù quy mô khách lớn hơn châu Âu hơn bốn lần. Tỷ trọng khách châu Âu tăng từ 12,36% lên 16,73%, còn châu Á giảm từ...
bai-viet-lien-quan
93% xuất khẩu tăng thêm đến từ FDI: Bài toán giá trị nội địa vẫn còn bỏ ngỏ
93% xuất khẩu tăng thêm đến từ FDI: Bài toán giá trị nội địa vẫn còn bỏ ngỏ Xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2026 đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,48% so với cùng kỳ. Đằng sau kết quả này là một sự phân hóa đáng chú ý. Khu vực FDI tăng xuất khẩu 29,37%, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 7,48%. Tính theo kim ngạch tăng thêm, khoảng 93% động lực đến từ FDI. Sự phân hóa ấy đặt ra vấn đề về khả năng chuyển sức tăng của thương mại thành thu nhập, lợi nhuận và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam. Khi xuất khẩu mở rộng chủ yếu trong các chuỗi FDI, lợi ích lan tỏa phụ thuộc rất lớn vào mức độ tham gia của nhà cung ứng nội địa. Một chu kỳ tăng trưởng mang dấu ấn điện tử Điện tử, máy tính và linh kiện đạt kim ngạch xuất khẩu 123,66 tỷ USD, tăng 59,55%. Máy móc, thiết bị tăng 27,89%, điện thoại và linh kiện tăng 18,77%. Trong khi đó, dệt may chỉ tăng 1,91%, giày dép tăng 1,40%. Đây là sự khác biệt...