0338922229

contact@Vietstats.vn

Đăng ký/ Đăng nhập
Logo công ty
Let Data Lead The Policy
Về chúng tôiDữ liệu kinh tếKinh tế ngànhKinh tế địa phươngCon số biết nóiGóc nhìn chuyên giaTài nguyên

Gói dữ liệu

Thể chế mạnh không phải ở số lượng luật mà ở năng lực thực thi

Triệu Phong

10-09-2025

Ý kiến (0)

Mới nhất
No data
Không có dữ liệu ...!
Logo công ty
Vietstats - Nền tảng tổng hợp dữ liệu kinh tế đáng tin cậy, hỗ trợ hoạch định chiến lược chính sách và ra quyết định thông minh cho nhà đầu tư và doanh nghiệp.
CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP
Nhà phát triển webChuyên Viên Phân Tích Dữ Liệu (Data Analyst)Nhà thiết kế webNhà phân tích dữ liệuNhà phát triển kinh doanh
CHÍNH SÁCH VÀ ĐIỀU KHOẢN
Chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhânĐiều khoản và điều kiện chungĐiều khoản mua gói dịch vụ dữ liệuCâu hỏi thường gặp (Q&A)
LIÊN HỆ
Tầng 3, Block B Tòa nhà Jamona Heights, 210 Bùi Văn Ba, phường Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh.
0338922229
contact@Vietstats.vn

Số GCNĐKDN: 0318370355 - Đăng ký thay đổi lần thứ 1, ngày 08 tháng 04 năm 2024.

Logo công ty
  • CÔNG TY VIETSTATS
  • Tầng 3, Block B Tòa nhà Jamona Heights, 210 Bùi Văn Ba, phường Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh.
© Vietstats Corp. All rights reserved.
Bài viết liên quan
bai-viet-lien-quan
So sánh chi phí xung đột vũ trang với chi phí khủng hoảng tài chính
Dữ liệu tổng hợp của IMF cho thấy một điểm đáng lưu ý: các cuộc xung đột vũ trang gây tổn thất kinh tế lớn hơn đáng kể so với phần lớn các cuộc khủng hoảng kinh tế thông thường, và mức thiệt hại không chỉ sâu hơn trong ngắn hạn mà còn kéo dài, tích lũy và dai dẳng hơn theo thời gian. Về tác động chung lên sản lượng, xung đột làm GDP giảm khoảng 2,79% sau 1 năm, 5,58% sau 3 năm và 6,66% sau 5 năm. Quỹ đạo này cho thấy tác động của xung đột không chỉ ở cú sốc ban đầu mà tiếp tục ăn mòn năng lực sản xuất, đầu tư, thương mại và niềm tin kinh tế trong nhiều năm sau đó. Nói cách khác, xung đột không chỉ là một cú sốc mang tính chu kỳ mà là cú sốc cơ cấu, làm suy yếu nền tảng tăng trưởng dài hạn. Khi so sánh với các cú sốc kinh tế khác, mức độ nghiêm trọng của xung đột vũ trang càng nổi bật. So với khủng hoảng ngân hàng, xung đột vũ trang gây thiệt hại lớn gần gấp đôi sau...
bai-viet-lien-quan
Vai trò của doanh nghiệp nhà nước và cấu trúc cạnh tranh: Hàm ý từ Chỉ số vị thế sở hữu nhà nước EPOS
Chỉ số Economywide Public Ownership Score (EPOS) trong Báo cáo Phát triển Thế giới 2024 (WDR 2024) là một chỉ báo tổng hợp phản ánh mức độ hiện diện và vai trò chi phối của doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trong toàn bộ nền kinh tế. Chỉ số này bao quát cả chiều sâu can dự của nhà nước vào các ngành sản xuất hàng hóa, dịch vụ, mức độ kiểm soát thị trường thông qua các công cụ quản lý và cấp phép, cũng như chất lượng khung quản trị cạnh tranh và giám sát thị trường. Điểm số cao cho thấy sự kết hợp của ba đặc trưng: (i) phạm vi hoạt động của SOEs rộng, (ii) mức độ bảo hộ đối với các chủ thể hiện hữu lớn, và (iii) rào cản gia nhập thị trường tương đối cao, khiến cạnh tranh bị kìm hãm và thị trường vận hành kém linh hoạt. Vì vậy, chỉ số này hàm ý trực tiếp về hiệu quả phân bổ nguồn lực, động lực đổi mới sáng tạo và khả năng tăng trưởng năng suất trong trung và dài hạn. Ở góc độ rộng hơn, EPOS là một thước đo...
bai-viet-lien-quan
Mức độ tập trung thị trường và câu hỏi vì sao Việt Nam cần củng cố thể chế cạnh tranh?
Mức độ cạnh tranh của thị trường là nền tảng quyết định năng suất, đổi mới sáng tạo và triển vọng tăng trưởng dài hạn của một nền kinh tế. Khi thị trường phân tán và có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia, áp lực cạnh tranh sẽ thúc đẩy hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm và khuyến khích đổi mới. Ngược lại, khi thị trường bị tập trung vào một số ít nhóm doanh nghiệp lớn, nguy cơ độc quyền, méo mó phân bổ nguồn lực và trì trệ năng suất sẽ gia tăng, tạo ra những rào cản đối với phát triển bền vững. Dữ liệu từ Báo cáo Phát triển Thế giới (WDR 2024) mang đến một góc nhìn đáng chú ý về cấu trúc thị trường Việt Nam. Trên thang điểm đo lường mức độ phân tán doanh nghiệp, Việt Nam đang ở mức thấp hơn nhiều nền kinh tế thu nhập trung bình và cách khá xa so với nhóm nước thu nhập cao (những quốc gia có môi trường cạnh tranh sâu rộng và thị trường mở). Kết quả này trái ngược với nhận thức phổ biến cho rằng thị trường Việt...
bai-viet-lien-quan
Chi phí vốn của Việt Nam trong bức tranh năng lượng tái tạo toàn cầu: Thấp hơn kỳ vọng nhưng chưa đủ để bứt phá
Dữ liệu Ngân hàng Thế giới (2024) cung cấp một lát cắt quan trọng về môi trường đầu tư năng lượng tái tạo toàn cầu, thông qua hai biến số nền tảng: GDP bình quân đầu người và chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC – Weighted Average Cost of Capital) dành cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn. Đây là cặp biến phản ánh trực tiếp năng lực phát triển năng lượng sạch của từng quốc gia, bởi GDP/người cho biết mức độ phát triển kinh tế – xã hội, còn WACC quyết định chi phí huy động vốn – yếu tố then chốt trong tổng chi phí sản xuất điện tái tạo. Điểm đáng chú ý là Việt Nam, dù vẫn được xếp trong nhóm thu nhập trung bình thấp, lại có mức WACC khoảng 7%, tương đương mức trung bình toàn cầu của nhóm thu nhập trung bình và thậm chí thấp hơn nhiều quốc gia có thu nhập tương đương hoặc cao hơn. Điều này cho thấy nhà đầu tư quốc tế vẫn đánh giá Việt Nam là thị trường có mức rủi ro chấp nhận được, phản ánh sự ổn định...
bai-viet-lien-quan
Tái cơ cấu lao động và năng suất ở Việt Nam: Động lực, giới hạn và hàm ý từ so sánh khu vực
Tăng trưởng năng suất lao động trong các nền kinh tế Đông Á – Thái Bình Dương ba thập niên qua cho thấy một mẫu số chung: những quốc gia có mức độ tái cơ cấu mạnh, tức là chuyển dịch lao động khỏi các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất cao hơn, thường đạt mức tăng trưởng năng suất vượt trội. Việt Nam là một ví dụ tiêu biểu. Số liệu giai đoạn 1991 – 2018 cho thấy tái cơ cấu đã đóng góp đáng kể vào tăng năng suất của Việt Nam, với những động lực khác biệt qua từng thời kỳ và đặt Việt Nam vào nhóm nền kinh tế dịch chuyển thành công nhất khu vực. Giai đoạn 1991 – 1996 đánh dấu sự bùng nổ của tăng năng suất nhờ tái cơ cấu. Việt Nam ghi nhận mức đóng góp rất mạnh từ dịch chuyển lao động sang các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là dịch vụ và công nghiệp. Số liệu cho thấy khu vực dịch vụ đóng góp 3,01 điểm phần trăm vào tăng năng suất, trong khi công nghiệp chế tạo đóng góp 0,72 điểm phần...